tuvanphongtranhbenh.com

Bài viết 06/2017

Viêm VA là tình trạng bệnh rất phổ biến ở trẻ em, ảnh hưởng đến khoảng 10% tổng số trẻ em.Trẻ bị viêm VA có thể do quá trình viêm nhiễm liên tục bị tái phát đi tái phát lại khiến cho các nang lympho tăng cao.
 
Nguyên nhân trẻ bị viêm VA
Nguyên nhân dẫn đến viêm VA ở trẻ em có thể là do các loại rirus gây nên, hoặc do các yếu tố môi trường như thời tiết, khói, bụi tác động. Bên cạnh đó, còn có thể do nội tảng, thể chất và sức khỏe của trẻ.
 
Triệu trứng viêm VA
Khi trẻ bị viêm VA thường xuất hiện các triệu chứng sốt cao, lên đến 38 – 40 độ kèm theo các hiện tượng như hắt hơi, sổ mũi, nghẹt thở, ho. Đặc biệt, một số trường hợp bệnh nặng hơn còn có thể xuất hiện các biểu hiện viêm tai hay viêm thanh quản.
 
Biến chứng bệnh viêm VA ở trẻ
Nếu bệnh viêm VA ở trẻ không được chữa trị kịp thời có thể dẫn đến trẻ chậm phát triển. Bên cạnh đó, trẻ sẽ xuất hiện các dấu hiệu như phản ứng chậm, kém ăn, người gầy gò, da xanh xao, mũi thò lò.
 
Lực học giảm sút do kém tập trung. Tai bị viêm, não hiếu oxy. Hiện tượng tắc nghẹt mũi xảy ra ngày càng mạnh. Dây thanh quản bị viêm. Bệnh phế quản phát triển khiến trẻ khó thở, ho dữ dội. Bên cạnh đó trẻ còn có thể mắc bệnh viêm khớp hoặc viêm cầu thận cấp do các biến chứng của bệnh viêm tai tai giữa và viem đường tiêu hóa. Dần dần trẻ sẽ cảm thấy mệt mỏi, biếng ăn, sụt cân, buồn ngủ và giảm trí nhớ.
 
Điều trị viêm VA cho trẻ như thế nào?
Nếu phát hiện trẻ bị viêm VA sớm thì có thể không sử dụng thuốc mà chỉ cần cung cấp cho bé đủ chất dinh dưỡng cần thiết để nâng cao sức đề kháng. Bên cạnh đó cần thường xuyên rửa sạch mũi cho bé bằng nước muối sinh lý, giữ gìn vệ sinh và cho bé mặc đủ ấm.
 
Đối với các bé bị viêm VA nặng, cha mẹ nên đưa bé đến các bác sĩ để được thăm khám và có các phương pháp chữa trị kịp thời.

Phòng ngừa bệnh viêm VA cho trẻ bằng cách nào?
Việc phòng ngừa bệnh viêm VA ở trẻ không khó nhưng không phải ai cũng ý thức đúng về tầm quan trọng của việc vệ sinh thân thể bé. Vì thế, các cha mẹ cần thường xuyên vệ sinh tai mũi họng cho trẻ. Rửa mũi, hút mũi bằng dung dịch muối để loại bỏ dịch mủ, dịch viêm và giúp đường hô hấp của trẻ thông thoáng.
 
Hy vọng với những chia sẻ của chúng tôi các bạn có thể hiểu rõ hơn về các triệu chứng, biến chứng cũng như cách phòng tránh, chữa trị bệnh viêm VA ở trẻ, giúp trẻ có một sức khỏe tốt hơn.

Xem thêm: 
Xem bài viết trước: http://tuvanmayruabat.com/tim-hieu-ve-viem-mui-xoang-di-ung/



 
Suốt tháng qua, một vấn đề vừa bức xúc với đời sống của nhân dân, vừa thiết thân với ngành dược, vừa nhạy cảm với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà Nước đã nổi bật trên thị trường dược phẩm: đó là giá thuốc. Các phương tiện thông tin đại chúng, dân thành thị và nông thôn, người bệnh, cán bộ y dược các cấp, đoàn thể và chính quyền địa phương ai cũng đều bức xúc: tại sao thuốc lên giá đồng loạt, lên cao và lên nhanh… Thực tế là như thế nào? Phải công nhận giá là một chỉ tiêu rất tổng hợp, không những về kinh tế và đời sống, mà cả về chính trị va xã hội, về kỹ thuật và văn hóa, nên bất cứ ai cũng quan tâm và Nhà nước đã lo cho dân thì phải quan tâm vào bậc nhất. Trong các loại giá, giá thuốc thuộc loại “xung yếu” nhất. Không chú ý đúng mức, hậu quả tất yếu sẽ xảy ra, đôi khi khó lường. Trong 10 năm qua, năm nào cũng có một vài lần, Hội Dược học Việt Nam đã có trực tiếp đề bạt ý kiến với ngành y tế, cả mấy lần trình bày nguyện vọng trên Tạp chí Thuốc & Sức Khỏe, cần có chính sách về giá thuốc, nhất thiết không thể để thả nổi, vì thả nổi, tức là để giá tự do vận động theo chiều tiêu cực cảu thị trường. Nếu không có sự hướng dẫn, sẽ không theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Những điều trần tình đều hông có hồi âm nên việc gì phải đến đã đến. Không thể quan niệm giá cả, trong đó có giá thuốc, nhất định phải đứng yên một chỗ. Nói một cách tổng quát, trong toàn bộ quỹ đạo thuốc của nước ta, 65% là do nhập khẩu, và trong 35% sản xuất nội địa, ít nhất 70&% có yếu tố bên ngoài, nên gần 90% phụ thuộc vào ngoại tệ. Vì vậy, dù đồng tiền của nước ngoài như Mỹ, Pháp có ổn định, tình hình lạm phát của đồng Bạc Việt Nam không thể không ảnh hưởng đến giá thuốc. Cho nên, liên tục qua các năm, gái thuốc luôn luôn có sự biến động, mỗi quý hoặc mỗi năm có tăng lên một ít: 1 – 2%, thậm chí 4 – 5%/năm, ở mức người ta không cảm thấy sự tăng giá, thị trường có thể chấp nhận được. Huống chi giá cả quốc tế cũng tăng vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điện, xăng dầu, vận tải,… các doanh nghiệp không thể chấp nhận bán lỗi đồng bộ và liên tục để đi đến chỗ khánh tận, có lỗ mặt hàng này thì lấy lãi của mặt hàng khác đắp vào, doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển. Do đó, phải xem việc tăng giá là một việc hiển nhiên, cốt đừng để đột biến, quá mức, gây thành cơn sốt. Nhưng tại sao vừa qua giá thuốc lại gây nỗi lo lắng? Nói chung, việc một mặt hàng hoặc toàn bộ mặt hàng lên giá có hai loại nguyên nhân: nguyên nhân cơ bản và nguyên nhân cơ hội. 
PV – Thuốc & Sức Khỏe – Số 233 (01/04/2003)
Nguyên nhân cơ bản xuất phát từ quy luật thị trường, do chúng ta chưa kịp thời có chính sách, cơ chế thích hợp và hữu hiệu để điều tiết hoặc kìm hãm, hạn chế; nguyên nhân cơ hội phụ thuộc vào con người, chủ yếu nằm trong hệ thống bán lẻ, trên cơ sở lòng tham cá nhân, ý thức lợi dụng tình thế, lợi dụng sơ hở. Xét về mặt động, nguyên nhân cơ bản có tác dụng nhũng đoạn, và lâu dài dễ làm ảnh hưởng đến toàn cục, nên được xem là cái gốc: Giải quyết chậm và kéo dài sẽ gây tác hại. Cách khắc phục là xây dựng chính sách cho phù hợp (nếu chưa có) hoặc thay đổi hay chỉnh đốn chính sách (nếu đã có). Còn nguyên nhân cơ hội. tuy tác động trực tiếp đến người dân, đến người tiêu dùng, nhưng tác hại có chừng mực nhất định đến tình hình kinh tế nói chung và được xem là cái ngọn. Mặc dù vậy, cũng không thể xem thường, vì ảnh hưởng đến kinh tế cá nhân, kinh tế gia đình, và đến tâm lý xã hội, nên cũng phải giải quyết thấu đáo. Biện pháp chủ yếu để khắc phục là theo dõi, kiểm tả và áp dụng luật pháp. Trong tình hình nước ta hiện nay, giải quyết tình hình giá thuốc phải xúc tiến cả hai loại biện pháp, loại trừ cả hai nguyên nhân. Tuy trước mắt, phải hạn chế, đi đến triệt tiêu nguyên nhân cơ hội, điều cần xúc tiến rốt ráo, khẩn trương và tích cực, nhưng không thể bỏ quên cái gốc, cần phải có sự quan tâm tập trung xây dựng nền tảng lâu dài: một chính sách gia thuốc nhất quán là một yêu cầu cấp bách. Điều cần nhấn mạnh, như Thuốc & Sức Khỏe đã từng nêu, là ngành y tế, cụ thể là ngành dược phải đảm nhận vai trò chủ động. Nhà nước có chính sách chung về giá, ngành dược cần phải căn cú vào đó để xây dựng chính sách riêng về thuốc với những biện pháp cụ thể, ngành khác, vì không có điều kiện hiểu sâu sát và đúng, sẽ khó phụ trách để có sự chỉ đạo và những biện pháp chính xác. Hơn nữa, để đảm đương tách nhiệm then chốt, ngành y dược cũng không nên và không để bị sa lầy vào việc định giá cụ thể từng mặt hàng, mà chỉ cần nêu những nguyên tắc cơ bản về thuốc. Giá thuốc phải thể hiện mối quan hệ hài hòa giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, vừa chú ý đến quyền lợi nhân dân, người bệnh, cũng phải quan tâm đến lợi ích cảu nhà sản xuất và kinh doanh, cả hai đều phải thực thi nghiêm chỉnh và sáng tạo định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế nước ta. Ở nhiều nước, tập thể những người dược sĩ, là những người duy nhất được pháp luật cho phép làm nhiệm vụ phân phối thuốc, được giao trách nhiệm tự quản lẫn nhau về quy chế và giá cả trên mạng lưới bán lẻ. Giải quyết tốt vấn đề giá thuốc, là sự đóng góp rất lớn vào sự nghiệp bảo vệ sức khỏe của nhân dân ta.
PV – Thuốc & Sức Khỏe – Số 233 (01/04/2003)
Bệnh lao là bệnh nhiễm gây ra bởi vi khuẩn Koch (BK) thuộc loại Mycobacterium. Bệnh có khắp nơi từ thời Hippocrate. Cách đây không lâu, bệnh lao gây nhiều tử vong nhất trên thế giới 33%. Tiếp đến là bệnh tim mạch (21%) và bệnh ung thư (12%). Hiện nay, HIV chiếm vị trí hàng đầu với hơn 2 triệu ca tử vong hàng năm. Cho đến nay, một vaccin và phương pháp điều trị bằng kháng sinh đã tỏ ra hữu hiệu trong phần lớn các ca. Nhưng giờ đây, bệnh lao vẫn còn một hiểm họa và là một vấn đề quan trọng của ngành y tế công cộng. Từ khi có Streptomycin, người ta tin tưởng có thể loại trừ được bệnh lao. Nhưng đại dịch AIDS đã làm đảo lộn: những bệnh nhân suy giảm miễn dịch do  bị nhiễm HIV có nguy cơ mắc bệnh lao cao hơn hẳn 30 lần. Ở 90% những người nhiễm vi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis lần đầu tiên, đại thực bào và bạch huyết bào phối hợp để loại trừ Koch. Sau vài tháng có 5% các trường hợp phát triển vết thương tiền khởi. Còn ở 5% còn lại, vài Koch tồn tại trong phổi, nhưng chúng không phát triển: về mặt lâm sàng, đây là thời điểm tiềm ẩn, có thể kéo dài nhiều năm, có khi suốt cả đời. Điều này là mối đe dọa triền miên, vì khi Koch trỗi dậy, bệnh lao có nguy cơ xuất hiện. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (OMS), 1/3 dân số thế giới (khoảng 2 tỷ người) có thể bị nhiễm trùng lao tiềm ẩn. Bệnh lao chỉ xuất hiện trên hệ miễn dịch suy yếu, khi cơ thể không còn khả năng ức chế sự sinh sản vi khuẩn lao. Chính vì vậy, mà những người bị nhiễm HIV là thực địa thuận lợi nhất để bệnh lao phát triển. Để phát hiện bệnh lao, những dấu hiệu thường gặp là:
- Mệt mỏi không lý do kéo dài.
- Ho dai dẳng, nhất là sau khi ngủ dậy.
- Đổ mồ hôi về đêm.
- Sốt nhẹ về chiều.
Ngoài ra, người ta tìm vi khuẩn lao trong bệnh phẩm (đờm). Tiêm lao tố (tuberculine), chất chích tinh của Koch pha loãng, vào nội bì, để chẩn đoán lao. Cấy trùng: phải 3 tuần, Koch mới mọc lên trong môi trường cấy và 3 tuần sau đó, mới có kháng sinh đồ cho biết kháng sinh nào thích hợp cho điều trị.
Thuốc chủng ngừa
Năm 1882, Robert Koch đã phát hiện vi khuẩn lao. Sau đó Calmette và Guerin (viện Pasteur Lille) đã tích cực nghiên cứu và đã tìm ra một thuốc chủng ngừa hữu hiệu mang tên hai ông BCG. Năm 1928, Calmette báo cáo kết quả: chỉ có 1,5% ca tử vong ở trẻ em được chủng ngừa so với 20% ở nhóm trẻ không chủng. Tuy nhiên, phương thức nuôi cấy Koch và bảo quản thuốc chủng (BCG) không đồng nhất. Năm 1966, Tổ chức Y tế Thế giới quyết định tiêu chuẩn hóa thuốc chủng BCG. Sau 1970, bệnh lao giảm rõ rệt. Ở các nước phát triển, Tổ chức Y tế Thế Giới đề nghị sử dụng BCG để chủng ngừa cho trẻ em khi mới sinh ở những địa phương có tỷ lệ người mắc lao cao. BCG là một thuốc chủng sống giảm độc, do đó, không thể sử dụng cho người suy giảm miễn dịch như bệnh nhân AIDS. Tuy nhiên, có thể chủng ngừa cho trẻ bị nhiễm HIV, nếu chưa có triệu chứng bệnh. Ngày nay, cả thế giới đều áp dụng chiến lược chống lao gọi là DOTS, một chiến lược hóa trị ngắn ngày đơn giản có kiểm soát, đạt hiệu quả cao với kinh phí thuốc thấp. Ở nước ta, ngành y tế cũng đang tích cực thực hiện chiến lược này.
TS. Phạm Phú Vinh – Thuốc & Sức Khỏe – Số 233 (01/04/2003)
Từ Gia Lai, Ông Nguyễn Văn N. viết thư về tòa soạn: “Tôi năm nay 65 tuổi, sống ở vùng cao rừng sâu. Nơi đây có nhiều muỗi sốt rét nên bác sĩ khuyên tôi lên uống Nivaquine tại 100mg mỗi này 1 viên để ngừa bệnh. Tuy nhiên, tôi uống không đều, có hôm uống, có hôm không. Như vậy đã được 3 – 4 năm rồi. Mấy ngày này, tôi thấy mắt ngày càng mờ nhiều. Đi khám, bác sĩ nói tôi không bị cườm, không bị giãn áp cao mà bị viêm hoàng điểm nghi do Nivaquine và yêu cầu tôi phải ngưng ngay Nivaquine. Thị lực mỗi mắt của tôi nay chỉ còn 1/10. Xin bác sĩ chỉ cho tôi cách nào phục hồi thị lực…”. Thắc mắc của Ông N. được bác sĩ Phạm Như Bách, chuyên về nhãn khoa, trả lời dưới đây. Mời các bạn cùng xem: Những thuốc Chloroquin (Nivaquine), hydroxychloroqin (Plaquenil) thường dùng để chữa và phòng ngừa bệnh sốt rét, cũng để chữa bệnh khác như thấp khớp, lupus ban đỏ. Liều lượng để điều trị thấp khớp là 250mg/ngày. Thuốc được thải ra ngoài rất chậm và thường đọng lại trong mắt, nhất là ở võng mạc và giác mạc. Không có biến chứng vào mắt, bệnh nhân có một vùng tối ngay trước mắt mà người ta gọi là “ám điểm trung tâm”. Nếu ta ngưng thuốc ngay ở giai đoạn này thì ám điểm trung tâm sẽ mất đi. Đến giai đoạn sau: ngoài ám điểm trung tâm, thị lực sẽ giảm đi. Trong đáy mắt, ta thấy xuất hiện quang hoàng điểm một vùng vàng rồi sau này trở thành đen sậm. Vào giai đoạn cuối, thị lực giảm đi rất nhiều – như trường hợp của Ông – thì không thể nào hồi phục được. Theo dõi bệnh nhân” Đối với bệnh nhân dùng hydroxychloroquin thì việc theo dõi không cần chặt chẽ lắm. Nhưng với những người dùng chloroquin (Nivaquine) trong thời gian lâu vài năm thì cần theo dõi bệnh nhân thật chặt chẽ. Khi thị lực giảm, khi có ám điểm trung tâm xuất hiện. phải ngưng thuốc ngay.
Tình đoàn kết – Vũ khí chống mù lòa
Tại hội nghị NewYork, ngày 10/10/2002, nhân ngày Quốc tế về thị giác, các nhà khoa học đúc kết chiến dịch chống chứng mù lòa, do ký sinh trùng ở châu Phi. Thành công của chiến dịch cho sự hợp tác đặc biệt giữa các cộng đồng Châu Phi, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các tổ chức nhân tạo và Công ty dược Merck. Chương trình này đã được khởi xướng cách đây 15 năm và có sự đóng góp công sức của cả trăm nghìn người. Đây là điểm hình của sự hợp tác nhằm tấn công và loại trừ các bệnh viêm nhiễm ở Châu Phi. Thế giới có đến 45 triệu người mù, 90% người mù sống ở các nước đang phát triển. Theo WHO, 80% các ca mù có thể tránh được. Từ năm 1987, Công ty Merckđã được phép cho lưu hành dược phẩm ivermectin cho thấy trước mặt có lệnh Onchocerca. Nhờ sự giúp trợ của nhiều tổ chức nhân đạo và Tổ chức Y tế thế giới, tại 32 nước đã tiếp nhận được thuốc. Người dân trên 5 tuổi, trừ phụ nữ có thai, ở những vùng có dịch đều được phát 3 viên ivermectin uống 1 lần/năm, trong 14 năm liên tục. 250 triệu ivermectin đã được phát ra. Nhưng ngày nay, cũng chưa có thể nói là đã diệt trừ được bệnh mù lòa do Onchocerca. Ngoài ivermectin, WHO còn phát động chiến dịch tiêm thuốc diệt côn trùng, để tiêu diệt loại ruổi đen “Simulie” vecto ký sinh  trùng Orchocera volvulus.
Tân Trụ - Thuốc & Sức Khỏe – Số 233 (01/04/2003)
Cuộc chạy tiếp sức
- Mục tiêu
+ Ôn lại các kiến thức và hành vi về HIV/AIDS, ma túy.
- Vật liệu
+ Nhiều bảng chữ nhỏ hoặc hình vẽ diễn tả các tình huống nguy cơ cao, nguy cơ ít và không có  nguy cơ trong việc lây truyền HIV/AIDS. Thí dụ: ôm hôn, cắn, kim chích chung, xài dao cạo râu chung, ăn uống, chăm sóc vết thương…
+ 3 bảng giấy lớn (hoặc bảng nỉ nếu có) có thể trải trên mặt đất hoặc dán lên tường quy định là bảng “Nguy cơ cao”, “Nguy cơ thấp”, “Không nguy cơ”, chia thành nhiều cột tùy theo số đội tham gia.
+ Keo, hồ dán.
+ Thúng, rổ, có thể lấy nón hay xếp thúng bằng giấy.
- Cách chơi
+ Tùy theo số em nhiều ít, có thể chia làm 2 – 3 đội xếp hàng dọc
+ Trộn đều các bảng chữ hoặc hình, chia thành từng thúng tùy theo số đội.
+ Ở mỗi đội, từng em ở đầu hàng lên bốc một hình hoặc một chữ tùy ý, tìm bảng thích hợp dán lên, nếu đúng được tính điểm, nếu không đúng thì không có điểm. Xong, chạy về cuối hàng cho em kế tiếp lên tiếp tục chơi. Đội nào dán xong trước và đúng nhiều sẽ thắng.
+ Hỏi lại ý nghĩa của từng tình huống để các em giải thích.
 Lưu ý: Chọn những tình huống thật rõ ràng, dễ hiểu để các em không hiểu lầm.
Hỏi và đáp
Hỏi: Xin cho biết giá tiền của các loại thuốc ngừa thai?
Đáp: Thông tin về giá của các thuốc ngừa thai vào thời điểm hiện tại như sau:
- Thuốc ngừa thai kết hợp:
+ Các loại thuốc thế hệ mới, ít tác dụng phụ (ví dụ: Gynera, Mercilon, Marvelon…), giá từ: 40.000 – 70.000đ/vỉ.
+ Các loại thuốc thế hệ cũ (hiệu quả tránh thai tốt): giá từ 5.000đ – 30.000đ. Một số thuốc còn được cấp miễn phí trong chương trình KHHGĐ: Nordette, Microgynon, Rigevidon, Choice, Ideal.
- Thuốc tiêm tránh thai: DMPA, giá từ 13.000đ – 60.000đ/lọ, tùy nước sản xuất, thời gian bảo vệ: 1 tháng, 3 tháng hoặc 6 tháng, thuốc được tiêm miễn phí tại các Trạm y tế phường/xã hoặc Đội Bảo vệ Bà mẹ Trẻ em quận/huyện.
- Que cấy tránh thai: Implanon, giá 84 USD/1 que cấy, chưa tính giá thực hiện thủ thuật, có thời gian bảo vệ 3 năm.
Công ước khung về kiểm soát thuốc lá của WHO
Tháng 5 năm 2003, Đại Hội đồng y tế thế giới nhất trí thông qua nội dung của Công ước khung về kiểm soát thuốc lá (FCTC). Việc tham gia ký kết công ước này đòi hỏi các nước phải có những giải pháp để đối phó với vấn đề về thuốc lá như: đưa ra mức giá và thuế đối với thuốc lá, quảng cáo và khuyến mãi thuốc lá… Ý nghĩa của Công ước khung về kiểm soát thuốc lá (Framework Convention Tobacco Control):
- Là công ước quốc tế đầu tiên về sức khỏe.
- Muốn ngăn chặn nạn dịch thuốc lá đòi hỏi phải có Công ước quốc tế và sự phối hợp của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế để đối phó với các công ty thuốc lá đa quốc gia.
- Đây là các chuẩn cơ bản để các quốc gia làm căn cứ phát triển chính sách, luật pháp và thi hành các biện pháp kiểm soát thuốc lá.
Trân Châu – Sức Khỏe Thành Phố Hồ Chí Minh – Số 107 (05/2004)